Băng quảng cáo
Băng quảng cáo



Nhạc Việt - Một phác thảo (Bài 4)
20:56, 29/12/2010

Có hàng hàng lớp lớp những gương mặt Tân nhạc (TN) xuất sắc đáng để lớp hậu sinh nhắc đến, nhưng trong chuyên đề này, tôi chỉ xin dành riêng mỗi bài để nói đến 3 người mà thôi: Văn Cao, Lê Thương, Đặng Thế Phong. Có 3 lý do để chỉ nêu được con số hạn chế như vậy. Một

- do khách quan, vấn đề tế nhị mà có một vài người tạm chưa được phép đề cập đến. Hai - do hạn chế về hiểu biết và tư liệu nên không bàn rộng ra được nhiều người. Và cuối cùng - đây là 3 nhạc sĩ thế hệ đầu tiên của TN đã tạo ấn tượng và tình cảm trong tôi nhiều nhất. Rất mong các bạn sẽ đóng góp thêm cho chuyên đề này nhiểu nhạc sĩ tiêu biểu khác. 

 
Đặng Thế Phong (sinh năm 1918) tuy chỉ mang đến cho TN Việt vỏn vẹn 3 ca khúc: Đêm thu, Con thuyền không bến, Gịot mưa thu, nhưng theo tôi hai trong số ba bài đó đều xứng đáng là những kiệt tác bất hủ của tình ca Việt. Ông chỉ viết được ba bài vì ông chỉ sống với nhân gian 24 năm! Câu nói ”tài hoa yểu mệnh” ứng nghiệm vào Đặng Thế Phong không sai một ly. 

Ông là người thành Nam, nơi đây cũng là quê hương của những nhạc sĩ tài hoa đầu tiên của TN: Đan Thọ, Bùi Công Kỳ (1919), Hoàng Trọng. Cùng thời với ông là các nhạc sĩ tên tuổi khác: Nguyễn Xuân Khoát (1910), Văn Chung (1914), Nguyễn Văn Thương (1919), Lê Yên(1917), Lưu Hữu Phước (1921), Đỗ Nhuận (1922), Phan Huỳnh Điểu (1924)… Chính lớp nhạc sĩ thế hệ thứ nhất này đã đặt nền tảng cho nhạc Việt qua các tác phẩm danh giá; và sự nghiệp sáng tác của họ đã bắc cầu nối dài từ thời Tân nhạc lãng mạn (trước 1945) cho đến giai đoạn của nhạc hùng ca rồi lãng mạn cách mạng (1945-1954) đến hiện thực cách mạng (1954-1975), tạo ra một di sản âm nhạc quý báu mà nổi bật nhất là giá trị tư tưởng - lịch sử và nét văn hoá đặc thù Việt Nam. 

[Viết bài này, tôi mới nhận ra một thiếu sót khi quên không nhắc đến trong bài trước một nhạc sĩ Tân nhạc lãng mạn rất tài hoa là Đoàn Chuẩn. Xin cho phép tôi được thắp nén nhang xin lỗi ông và nói về ông đôi dòng: Đoàn Chuẩn thường đi đôi với Từ Linh ở tên tác giả (viết lời) là một cặp bài trùng sản sinh ra những xuất sắc phẩm về mùa thu đáng được truyền tụng mãi mãi: Tà áo xanh, Thu quyến rũ, Gửi gió cho mây ngàn bay… kế tục những bài tình thu tuyệt tác của Đặng Thế Phong, Văn Cao. Ông là một người rất amateur đúng điệu công tử Hà thành và rất đa tình với những nét nhạc bay bướm mang hơi huớm lả lơi của tiếng đàn Hạ-uy-cầm mà ông rất thích sử dụng. Ông khai thác điệu tính trưởng mang phong cách bán cổ điển Tây phương nhưng nghe man mác  hồn Việt nhờ những quãng đặc trưng lấy từ ả đào, chèo. Nhạc Đoàn Chuẩn thường ám ảnh tôi khi biết yêu.] 

Quay lại với Đặng Thế Phong - cuộc đời của ông rất long đong, dở dang việc học, sống lang bạt kỳ hồ với nhiều nghề khác nhau: dạy nhạc, vẽ tranh cho báo, ca sĩ… Ông lang thang từ Nam Định lên Hà Nội, trôi dạt vào Sài Gòn, rồi qua Nam Vang, trước khi quay trở về Hà Nội và qua đời tại đó, sau khi viết xong bài hát sầu não nuột như chính cuộc đời mình: Giọt Mưa Thu. Ông mất vì bệnh lao do cuộc sống nghèo khổ, lao lực và bôn ba. 

Bàn về tác phẩm của ông, mọi người đều thừa nhận rằng ông thuộc lớp các nhạc sĩ tiền phong của âm nhạc lãng mạn Việt với những bản tình ca đầu tiên trong lịch sử rồi sẽ được nhiều nhạc sĩ sau này phát triển trong các dòng chảy tình ca khác. 

Nếu như ở bản nhạc đầu tay ”Đêm thu” còn mang nặng những âm giai Tây - mặc dù ở phần hai của ca khúc này ông có đưa ngũ cung Việt vào như một kiểu hợp hôn - thì ở bài hát tiếp theo”Con thuyền không bến”, sự kết hợp giữa thất cung và ngũ cung mới đạt đến độ chín của tài hoa. 

Ngũ cung trong bài này viết theo lối hát sa mạc (bởi thế nghe buồn xa xăm): mi mi mi mi là rề mi (đêm nay thu sang cùng heo may), la la la la mi sol la (đêm nay sương lam mờ chân mây)… lung linh đứng bên cạnh những âm điệu Tây phương với những bán âm chênh vênh: la si la đố si la mi (thuyền ai lờ lững trôi xuôi dòng)… Những âm điệu này được ông lồng vào những lệch phách, đảo phách (syncope) của lối hát ả đào thật lửng lơ.

Thật ra đâu phải đợi đến bây giờ mà ở Đặng Thế Phong đã có sự "đông tây giao hoà" rồi, đó là điều các nhạc sĩ đương đại trên thế giới như Olivier Messiaen, Claude Debussy… đã từng làm trong cuộc hành trình âm nhạc chinh phục những âm điệu châu Á của họ. Có lẽ đây chưa hẳn là do ý thức học thuật gì cao thâm mà theo tôi, chính tâm hồn và văn hoá rất Á Đông, rất Việt của Đặng Thế Phong đã làm nên sự hoà quyện tự nhiên và thú vị đó! 

Phong cách sáng tác này được ông tiếp tục trong ca khúc Giọt mưa thu. Nghĩa là thất cung kết hợp nhuần nhị với ngũ cung, nhưng trong bài này, ông viết có học thuật hơn khi ứng dụng kỹ thuật métabole (chuyển hệ) làm cho âm điệu bài hát trở nên nhiều màu sắc hơn. Bài này, hồi mới lớn cứ mỗi khi mưa, tôi lại bật máy cassette lên nghe, nhất là những đêm mưa nỉ non rơi không nhỏ không to, nghe hoài băng nhão khiến bài hát nghe càng… não nề, nghe mưa như thê thiết hơn.

Sau này, trong sáng tác đầu tay “Ướt mi” (cùng ở cung Mi thứ), Trịnh Công Sơn đã chịu ảnh hưởng và phát triển thêm, cũng là lối vận dụng điệu thức dorien với ngũ cung [mi sol la si rê]: sì mi sì rề mi sol la mi… (Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi)  với: sì mi mi mi mi, mi sol sol sol sol, mi la la si sol mi sì… (Ngoài hiên mưa rơi rơi…).

 Đặng Thế Phong có mặt trên cuộc đời này quá ngắn ngủi. Ông xuất hiện như một chớp sao băng với một sự nghiệp ít ỏi nhưng có giá trị lớn và vững bền. Ở thời kỳ của ông, khi các tình ca khác còn nói chuyện mây gió hoa lá thì nhạc của ông đã đi vào thân phận và tâm hồn một cách sâu sắc với bút pháp lãng mạn và u sầu. Tưởng như buồn chôn hết cả nỗi buồn trong đó. Nối tiếp chất lãng mạn tình ca này sẽ là một đệ-nhất-người-tình của ca khúc: Văn Cao.

                                                                               Trần Minh Phi

Cuộc Sống Việt _ Theo Giai điệu xanh

Thêm nhận xét


Security code
Không rõ, lấy lại hình mới

Địa chỉ sửa chữa cung cấp dịch vụ thông tắc chậu rửa bátsửa chữa điện nước uy tín, cam kết chất lượng dịch vụ. Phục vụ hơn 500000 khách hàng cả nước