|
08:24, 12/01/2012 |
|
I. GIỐNG: 1. Sản xuất giống: 1.1. Phân biệt ếch đực ếch cái Ếch đực: Hai bàn chân trước có mấu thịt ráp gọi là “chai sinh dục”, có hai chấm đen ở hàm dưới, bụng nhỏ và cứng. Ếch cái: Không có “chai sinh dục”, thường có bụng to mềm hơn ếch đực, da mịn và bóng.
|
|
08:22, 12/01/2012 |
|
Đưa giống mới có giá trị kinh tế và phù hợp với môi trường là mục tiêu quan trọng của phát triển nông nghiệp ven đô thị. Ếch cung cấp cho thị trường vẫn chủ yếu dựa vào đánh bắt trong tự nhiên.
|
|
07:50, 12/01/2012 |
|
1. Lươn giống và mật độ thả: - Lươn có 3 loại : Loại màu vàng sẫm, phát triển tốt nhất, Loại màu vàng xanh, phát triển bình thường, Loại màu xám tro, chậm lớn. - Bắt từ các nguồn sau: + Bắt trực tiếp lươn sẵn có trong tự nhiên (từ tháng 6 - 10 hằng năm).
|
|
07:47, 12/01/2012 |
|
- Chọn vịt sinh sản: Chọn vịt lên giai đoạn sinh sản lúc 21 - 22 tuần tuổi. Thời điểm này tỷ lệ loại thải thấp hơn thời điểm chọn lên hậu bị. Loại thải những con không đạt tiêu chuẩn giống như bị bệnh, ngoại hình có khuyết tật...
|
|
|
07:42, 12/01/2012 |
|
I. Chọn con giống: Chọn những con vịt loại 1 khỏe mạnh, nhanh nhẹn, bóng lông, mắt sáng, không khèo chân, hở rốn, nặng bụng, không khô chân. Vịt nuôi thịt thường chọn con giống từ các tổ hợp lai 2,3,4 máu để đạt kết quả tốt nhất.
|
|
19:38, 02/09/2011 |
|
Có thể nói mô hình chăn nuôi nhím kết hợp với nuôi thử nghiệm giống chim trĩ đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao, được mọi người biết đến học tập và làm theo. Ông, bà xứng đáng là hộ gia đình phát triển kinh tế giỏi của huyện Đà Bắc.
|
|
07:21, 23/08/2011 |
|
 Do lươn có tập tính sống chui rúc trong bùn đáy và đào hang để trú ẩn, đồng thời lươn cũng có thể bò đi mất nếu bờ ao không đủ cao. Do vậy vấn đề nuôi lươn trong các ao mương cần phải hết sức chú ý vấn đề này.
|
|
09:30, 21/08/2011 |
|
1. Chuẩn bị ao nuôi: - Diện tích ao: Từ 1000 đến 2000 m2, mực nước sâu 1,6 – 2,2 m. - Ao có cống cấp và cống thoát riêng. - Đáy ao phẳng, nghiêng từ cống cấp đến cống thoát, ao có lớp bùn đáy dày 15 – 20 cm. - Cải tạo ao nuôi: Bón vôi cải tạo (lượng 10-15 kg/100 m2 ao), Bón phân (Phân xanh với lượng 40 - 45 kg và phân chuồng với lượng 25 - 30 kg/ 100m2 ao)
|
|