Băng quảng cáo
Băng quảng cáo



Người cha làm 'vú nuôi' cho 2 sản phụ trong căn chòi rách
18:47, 11/08/2012

 Có lẽ khó có ai cầm được nước mắt khi chứng kiến cảnh khốn khó của gia đình này. Trong gian chòi tạm bợ ấy, người cao tuổi nhất làm ông, nhỏ nhất là những ấu nhi còn đỏ hỏn.

 Cả 5 con người vừa già vừa trẻ ấy phải lấy trời làm màn, mặt đất làm chiếu, lay lắt qua ngày đoạn tháng ngay bên vệ đường.

Sống bám vệ đường

Ông Văn Bá Hiếu (SN 1955, Vĩnh Linh, Quảng Trị) là người lớn tuổi nhất trong nhà. Vừa nghĩa vụ làm cha, vừa trách nhiệm làm ông, đã mấy tháng nay hầu như ông không ngủ vì phải ngược xuôi lo toan.

Ngồi bệt bên hòn đá kê tạm, tựa đầu vào cột căn chòi, ngước mắt về xa xăm, hướng nhìn quẳng sâu vào vô vọng, trên gương mặt cằn cỗi của người đàn ông ngoài 50 khắc khổ, đan đầy vết chân chim, hằn rõ những lo âu.

Ngẫm đoạn đời đã qua, ông thấy chỉ tràng giang những tháng ngày buồn khổ, sống đến tuổi bóng xế vẫn không thoát vận nghiệp. Nhưng ông thương con, xót cháu hơn là ngồi oán thán cuộc đời mình, bởi hơn ai hết ông biết những ngày sắp tới con ông, cháu ông sẽ còn lắm cơ cực.

Ông bảo, số ông trời phó gian nan, mệnh kiếp bạc bẽo. Quê mãi ngoài miền biển Vĩnh Linh, từ những năm 80 của thế kỷ trước, ông cùng dòng người nghèo khổ mang khát vọng thoát nghèo di cư vào Nam theo diện kinh tế mới.

Người con bạc phận bên căn lều dựng tạm ngay tại vệ đường.

Ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cả gia đình ngược xuôi khắp nơi, cuối cùng đổ bến tại huyện Đất Đỏ. Cùng thời với ông, người ta đã có nhà cửa xum xuê, con cái đề huề thành đạt, riêng ông vẫn vương vấn hai chữ nghèo, bất hạnh cuộc đời như những nấc thang trắc trở đi đến tận cùng của đau khổ.

Ông và vợ cũng quần quật quanh năm, làm lụng đủ nghề, những đứa con ông biết đi làm mướn cho người ta từ lúc đến tuổi đi học. Giá như ông hay rượu chè, bê tha bài bạc thì phải cảnh nghèo đói cũng đành, đằng này trời đất cứ như trêu, bắt ông phải khổ.

Những bất hạnh như không hẹn trước đổ xuống dồn dập, khiến gia đình ông vấy cảnh tan tác. Ông nhớ lại: “Nếu không có cái tai họa ập đến vợ tôi, thì chắc cha con tôi bây giờ không ra nông nỗi này”. Ấy là ông đang nói về cái ngày ông bán đi căn nhà, mảnh đất hòng cứu vợ mình mắc cơn bạo bệnh.

Ngày đó nhà ông nghèo, nhưng vẫn có cái ăn chứ không phải cảnh đong bữa như bây giờ. Ông có mảnh đất ngay sau lưng tấm bạt rách nơi ông ở hiện tại. Đất cũng khá rộng, mua bằng số tiền bao năm vợ chồng tích góp.

Đang yên đang lành thì vợ ông bỗng mắc chứng bệnh nhiễm vi trùng máu quái ác. Thương vợ, ông mang hết đồ đạc trong nhà bán chạy tiền thuốc, nhưng bệnh vẫn không chút tiến triển. Vay mượn mãi đến lúc không có khả năng hoàn trả, hễ thấy ông gõ cửa vay tiền nhà nào nhà ấy tránh như tránh hủi.

Cũng dễ hiểu, vì người ta có của đó, tiền đó nhưng rồi chẳng ai đủ can đảm đưa tiền cho người đang rơi vào tận cùng của túng quẫn mượn. Nhìn  xuôi chỉ còn mảnh đất, căn nhà, nhìn ngược tính mạng vợ đang treo sợi tóc.

Trong tình cảnh đó trong lòng ông chỉ có một suy nghĩ: Miễn cứu được vợ thôi, sau này dẫu có tha hương làm thuê cũng chấp nhận. Ông quyết định kêu người bán tháo, nhưng bất hạnh thay, khi hết tiền cũng là lúc vợ ông chết, nỗ lực của người chồng khốn khổ vẫn không cứu được vợ.

Không nhà không cửa, ba đứa trẻ và một người đàn ông góa vợ giã từ quê hương, tứ tán làm thuê xứ người. Và, hai mươi năm sau, khi chuẩn bị bước vào bóng xế của cuộc đời, người ta thấy người đàn ông ấy hội ngộ với các con mình trên mảnh đất xưa, nhưng trong căn chòi tạm, ngay bên vệ đường, trong niềm đau khổ ngút ngàn. 

Tột cùng nỗi bất hạnh

Ông nói như oán phận: “Bất hạnh cứ như những trận bão liên tiếp giáng xuống gia đình tôi chú ạ”. Trước tết Nhâm Thìn, đang yên bình thì Văn Thị Ngọc Thương (32 tuổi), người con gái đầu của ông đang làm thuê bên Lào điện về báo, bị chồng bỏ rơi.

Toàn bộ số tiền tiết kiệm bấy lâu trong thẻ của cô bị gã chồng đểu cáng lừa rút sạch, sau đó bỏ đi đâu không rõ. Gã ta chỉ để lại vỏn vẹn mấy trăm nghìn, cô khóc hết nước mắt nơi xứ người, rồi thanh toán tiền nhà trọ, một mình tủi nhục ôm bụng bầu đón xe về Vũng Tàu.

Thương cho biết, đến mãi mấy tháng sau chị mới nhận được cuộc điện thoại của một người phụ nữ, người này cho biết “người đầu ấp tay kề” bao năm của mình đã có gia đình và con cái ở trên Đồng Nai.

Về Vũng Tàu cha con gặp nhau chỉ biết khóc. Không nhà cửa, không bà con thân thích, chẳng ai tin cậy để nương nhờ, hai cha con lục đục về lại ngôi nhà trước kia đã bán và hết lời khẩn thiết chủ nhà. Nhưng dù nhà cửa người ta mua để đó chẳng ai ở, họ cũng lắc đầu với lý do: “Người mới sinh nếu vào nhà ai, nhà đó gặp vận sui, chẳng bao giờ làm ăn khấm khá được”. Thấy ông cầu khẩn quá, nể tình chủ cũ, người ta mới động lòng đồng ý cho cha con ông gá thân ngoài cổng, ngay sát một bên vệ đường.

Trong căn lều dựng tạm này, 3 cảnh đời cùng 2 đứa trẻ lay lắt bám trụ với cuộc sống mưu sinh.

Đất người ta “cho” còn lại nơi tá túc ông tự liệu. Ông lại tự tìm cây dựng “nhà”, đi xin bạt cũ về che mái, làm nơi trú tạm bợ cho đứa con bất hạnh và đứa cháu tội nhiệp. Chỉ chừng ấy thôi cũng đủ cho ông lo rối như tơ vò, bẵng đi hai tháng, đứa con gái thứ hai của ông lại từ Bình Dương tìm về, mang theo một cái bụng. Ông tối sầm mặt mũi khi biết, chỉ còn vài ngày nữa là con ông phải sinh.

Lần này “thằng rể” vô trách nhiệm của ông cũng “quất ngựa truy phong”, để lại người vợ bụng mang dạ chửa, chỉ vì một lý do: “Không biết đẻ con trai”. Một lần nữa ba con người bất hạnh  ôm lấy nhau nuốt nghẹn, khóc đến cạn dòng nước mắt.

Từ ngày thêm sản phụ thứ hai, chiếc giường của người chị phải ngăn thêm ra, gian chòi nhỏ bên vệ đường thêm tù bức và hẹp lại. Phụ nữ mới sinh kị nhất sương gió, nhưng đến nơi che nắng, tránh mưa còn khó lấy đâu ra phòng kín? Ông đành gõ cửa nhà người ta xin về những mảnh ri đô cũ, ga giường thừa, bạt người ta bỏ đi về căng lại để làm vách.

Ông Hiếu (ngoài cùng bên phải) tủi phận khi có người đến thăm

Vậy nên, tất cả những thứ “tài sản” trong “nhà”, ông có được là nhờ lòng trắc ẩn của người đời. Người ta có thêm cháu thì vui vẻ, hạnh phúc, còn riêng ông nghìn buồn, vạn lo. Một mình quay quắt nuôi hai sản phụ, hai đứa trẻ sơ sinh. Với một người ở cảnh “thân cô thế cô” như ông quả thực là gánh nặng tưởng như không thể cáng đáng nỗi.

Tận cùng của túng bấn, ông bảo, giờ đây không còm dám nghĩ khát vọng cao xa về cái nhà, nơi ở mà chỉ lo sao đủ miếng ăn trước mắt. Người ta khi sinh được bồi bổ dinh dưỡng này nọ, còn con ông vẫn phải nhịn đói khi đến bữa. Đêm đêm nghe các cháu khóc thét vì đói sữa, lòng ông lại đau như cắt, ông chỉ biết bất lực ngẫm phận mình sao trớ trêu. Một khổ cảnh làm rơi nước mắt bất cứ ai lỡ chứng kiến.

Điều ước của 3 người khốn khổ

Để nuôi hai đứa con bất hạnh, ông phải dốc hết “vốn” vào “kinh doanh” vặt bên đường, một hàng mít quả và một hàng “tạp hóa” vặt. Nhưng người đến mua vì lý do lòng thương hại thì đúng hơn. Thấy chúng tôi ghé, ông mời mua, dưới nền nhầy nhụa bùn đất có mấy trái mít thối nửa, ông bối rối gãi đầu bảo “mít lấy mối mãi trong vườn sâu của đồng bào dân tộc từ mấy hôm trước, nhưng giờ vẫn chưa bán hết”.

Ông còn có một cái tủ kính đựng mấy bao thuốc lá, dăm chai nước ngọt nhưng trưng như có lệ, chẳng ai thèm để mắt, có ngày chẳng bán được thức hàng gì. Một hàng mít, một hàng “tạp hóa”, cả gia đình 5 cái miệng trông chờ tất cả vào 2 thứ này.

Ông bảo thu nhập mỗi ngày chỉ mấy chục bạc, số tiền đó ông dành tất cả mua gạo để chăm hai người con ông vừa sinh nở. Những bữa cơm ăn không dám no, ông sợ rằng lạm vào khẩu phần của 2 đứa cháu ngoại, người ta thấy cay cay trong tình cảm “cá chuối đắm đuối vì con” của ông Hiếu.

Giờ đây ước mong lớn nhất của ba con người khốn khổ là có được căn nhà che mưa gió khi mùa mưa đang tới. Những bữa cơm no cho hai sản phụ, để hai trẻ sơ sinh không còn những đêm khóc dấm dứt vì những đói sữa.

Giang Uyên

Theo Infonet

Thêm nhận xét


Security code
Không rõ, lấy lại hình mới